Responsive Advertisement

Tìm Kiếm

Friday, May 18, 2012

Triceratops - Khủng long 3 sừng

Triceratops là một chi của một họ khủng long ăn cỏ Ceratopsid, sống trong tầng Maastrich, tầng cuối cùng của kỷ Phấn Trắng, khoảng 68 đến 65 triệu năm trước đây, tại nơi mà hiện nay là vùng Bắc Mỹ. Nó là một trong những con khủng long cuối cùng xuất hiện trước sự kiện tuyệt chủng ở kỷ Phấn Trắng – phân đại Đệ Tam. Mang một diềm xương lớn ở cổ và 3 cái sừng trên cơ thể đồ sộ có 4 chân, những đặc điểm tương tự với loài tê giác ngày nay, Triceratops là một trong những loài khủng long dễ nhận biết nhất. Mặc dù nó chung sống ở cùng một vùng đất và làm con mồi cho những con khủng long bạo chúa Tyrannosaurus, người ta cũng không rõ rằng liệu 2 con vật có chiến đấu theo cách mà chúng thường được mô tả trong phim, sách thiếu nhi và nhiều bộ phim hoạt hình.

Một bộ xương Triceratops hoàn chỉnh chưa từng được tìm thấy, tuy nhiên loài vật này được nhiều người biết đến qua những mảnh xương phong phú được thu thập lại kể từ khi phát hiện ra nó năm 1887. Chức năng của diềm xương ở cổ và 3 cái sừng đặc biệt của chúng đã gây ra cuộc tranh cãi dai dẳng. Mặc dù quan điểm theo truyền thống thì chúng là những vũ khí phòng thủ chống lại những kẻ săn mồi, nhưng học thuyết gần đây nhất lại khẳng định rằng những đặc trưng này rất có khả năng được sử dụng trong việc ve vãn bạn tình hay để thể hiện địa vị thống trị trong bầy đàn, giống như gạc hay sừng của các loài tuần lộc, dê núi hay bọ tê giác hiện nay.

Triceratops là chi nổi tiếng nhất trong họ ceratopsid, mặc dù vị trí chính xác của chi này trong việc phân loại là một điểm gây bất động giữa các nhà cổ sinh học. 2 loài Triceratops horridus và Triceratops prorsus, là được nghiên cứu một cách có cơ sở vững chắc nhất, mặc dù nhiều loài khác cũng được đặt tên theo chi Triceratops.

Sọ Triceratops tại bảo tàng lịch sử tự nhiên đại học Oxford

I. Tên nguyên gốc 

Cái tên Triceratops, dịch theo từng chữ là “mặt ba sừng”, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, tri nghĩa là ba, ceras nghĩa là sừng và ops nghĩa là mặt.

II. Mô tả

Một cá thể Triceratops được ước lượng đạt tới chiều dài khoảng 7,9 đến 9m, chiều cao khoảng 3m và nặng 6,1 đến 12 tấn. Điểm đặc biệt nhất là hộp sọ to lớn của nó, nằm trong số những cái lớn nhất của tất cả các loài vật trên đất liền. Nó có thể phát triển lên đến hơn 2m chiều dài, và cũng có thể đạt tới gần 1/3 chiều dài toàn bộ cơ thể con vật. Nó có một cái sừng đơn ở mõm ngay phía trên lỗ mũi và một cặp sừng dài khoảng 1m ở phía trên mỗi con mắt. Ở phía sau hộp sọ là một cái diềm xương. Phần lớn những loài khủng long mang diềm xương đều có những lỗ lớn trên đó, nhưng diềm xương của Triceratops lại đặc.

Triceratops so sánh với con người

Các loài Triceratops sở hữu một cấu trúc cơ thể vững chắc, với những cái chân rất khỏe, chân trước có 5 móng và chân sau có 4 móng. Mặc dù nó hiển nhiên là một loài thú đứng bằng 4 chân, tư thế của những con khủng long này đã là đề tài cho một vài cuộc tranh luận dai dẳng. Đầu tiên, người ta tin rằng chân trước của loài vật này phải khuỳnh ra một góc nghiêng so với ngực, nhằm để chịu đựng tốt hơn trọng lượng của cái đầu. Tư thế này có thể thấy trong những bức tranh của Charles Knight và Rudolph Zallinger. Tuy nhiên, theo những dấu vết về các dấu chân hóa thạch và sự dựng lại các bộ xương gần đây (cả trong tự nhiên lẫn trong kỹ thuật số), thì dường như cho thấy rằng Triceratops duy trì một tư thế đứng thẳng trong khi di chuyển bình thường, với đầu gối chân trước hơi khuỳnh ra ngoài một chút, là trạng thái trung gian giữa việc hoàn toàn đứng thẳng và hoàn toàn khuỳnh chân ra (giống như các loài tê giác hiện nay).

Bộ xương Triceratops tại bảo tàng Senckenberg

III. Phân loại

Triceratops là chi được biết đến nhiều nhất của họ Ceratopsid, một họ khủng long lớn có sừng ở Bắc Mỹ. Sự định vị chính xác của Triceratops trong phân họ nào đã được tranh cãi qua nhiều năm. Sự lẫn lộn nảy sinh chủ yếu là từ sự kết hợp của phần diềm đặc, ngắn (tương tự phân họ Centrosaurian) và những cái sừng dài trên trán (giống với phân họ Ceratopsin). 

Vào năm 1949, C. M. Sternberg là người đầu tiên đặt vấn đề rằng Triceratops có quan hệ gần gũi với Arrhinoceratops và Chasmosaurus căn cứ vào hộp sọ và sừng của chúng, tức là Triceratops thuộc phân họ Ceratopsin. Tuy nhiên, ý kiến của ông đã bị bỏ qua, với việc John Ostrom và sau đó là David Norman, cả hai đặt Triceratops vào trong phân họ Centrosaurian.

Những khám phá và phân tích tiếp sau đó đã ủng hộ quan điểm của Sternberg về vị trí của Triceratops, với việc Lehman định rõ cả 2 phân họ và năm 1990, và phỏng đoán Triceratops là thuộc phân họ Ceratopsin trên cơ sở những đặc trưng về hình thái. Trên thực tế, nó thích hợp với phân họ Ceratopsin, ngoại trừ một đặc điểm là cái diềm xương ngắn.

Triceratops horridus

IV. Sự khám phá và các loài.

Mẫu vật được đặt tên đầu tiên hiện đã được cho là của Triceratops là một cặp sừng gắn trên vòm hộp sọ, được tìm thấy gần Denver, Colorado vào mùa xuân năm 1887. Mẫu vật này đã được gửi tới Othniel Charles Marsh, ông lại nghĩ rằng hệ địa chất ở đó có niên đại từ Thế Thượng Tân (là một thế địa chất kéo dài từ khoảng 5,332 tới 1,806 triệu năm trước), và những mảnh xương này thuộc về một loài bò rừng bison to lớn khác thường, được ông đặt tên là Bison alticornis. Ông nhận ra rằng đó là một con khủng long có sừng trong năm tiếp sau đó, và ông coi nó thuộc chi Ceratops. Một mẫu vật John Bell Hatcher thu thập được năm 1888 từ hệ địa chất kiến tạo núi Lance ở bang Wyoming, ban đầu được xác định là một loài thuộc chi Ceratops. Tuy nhiên sau khi nghiên cứu lại, Marsh thay đổi quan điểm và đặt cho nó cái tên là Triceratops. Triceratops sau đó tiếp tục được tìm thấy trên nhiều bang của nước Mỹ như Montana, Nam Dakota, Colorado và Wyominh, và các tỉnh của Canada là Saskatchewan và Alberta.

Sọ Triceratops năm 1896

1. Các loài được phân loại có cơ sở. 

Chi Triceratops được coi là có khá nhiều loài, nhưng chỉ có ít trong số chúng được khẳng định một cách chắc chắn.

Triceratops horridus (T. horridus, là loài đặc trưng cho chi Triceratops) 

Triceratops prorsus (T. prosus)

Triceratops prorsus tại bảo tàng tự nhiên Minnesota.

Triceratops horridus tại bảo tàng lịch sử tự nhiên Mỹ, thành phố New York

2. Các loài còn nghi vấn

Các loài dưới đâu được coi là không rõ ràng, vì được dựa vào những vết tích xương cốt ít ỏi hay không hoàn thiện để phân biệt với 2 loài Triceratops trên.

  • Triceratops albertensis (T. albertensis)
  • Triceratops alticornis (T. alticornis)
  • Triceratops eurycephalus (T. eurycephalus)
  • Triceratops galeus (T. galeus)
  • Triceratops ingens (T. ingens)
  • Triceratops maximus (T. maximus)
  • Triceratops sulcatus (T. sulcatus)

V. Những nghiên cứu cổ sinh học

Mặc dù Triceratops thường được miêu tả là những con vật sống thành bầy đàn, nhưng hiện không có bằng chứng vững chắc về việc chúng sống trong một đàn. Không giống như các loài khủng long có sừng khác, mà một số được biết đến với những khu vực bảo quản các hóa thạch của hàng tá hay hàng trăm cá thể, tất cả những phát hiện về Triceratops đều chỉ là một cá thể đơn lẻ duy nhất. Tuy nhiên, những vết tích này rất phổ biến, chẳng hạn như Bruce Erickson, một nhà cổ sinh học của Bảo tàng khoa học Minnesota, báo cáo rằng ông tìm thấy 200 mẫu vật của Triceratops prorsus ở khu vực hệ địa chất kiến tạo núi Hell Creek của Montana. Tương tự như vậy, Barnum Brown khẳng định rằng đã thấy 500 hộp sọ trong khu vực đó. Những mảnh vụn của răng, sừng, diềm, và hộp sọ của Triceratops là những hóa thạch rất phong phú ở khu vực địa chất Lance của tầng Maastrichtian (cuối kỷ Phấn Trắng, 68 đến 65 triệu năm trước) tại miền tây Bắc Mỹ.

Triceratops là một trong số những loài khủng long cuối cùng xuất hiện trước sự kiện tuyệt chủng kỷ Phấn Trắng – phân đại Đệ Tam. Những loài họ hàng của nó như Diceratus và Torosaurus, và loài xa hơn một chút là Leptoceratops, cũng hiện diện lúc đó, mặc dù những vết tích của chúng rất hiếm khi bắt gặp.

1. Bộ răng và chế độ ăn uống

Triceratops là loài ăn cỏ, và bởi vì chúng có cái đầu thấp nên thức ăn chủ yếu của chúng là những cây mọc thấp, mặc dù đánh gãy những cây cao bằng những cái sừng, cái mỏ khoằm và cơ thể to lớn. Hàm của nó có một cái mỏ khoằm hẹp, sâu, có lẽ túm và bứt cây chứ không phải để ngoạm.

Những cái răng Triceratops được sắp xếp thành nhóm, 36 đến 40 chiếc một hàng dọc, mỗi phía của quai hàm có 3 đến năm cụm răng thành hàng dọc như thế, phụ thuộc vào kích thước của con vật. Như vậy nó có từ 432 đến 800 chiếc răng, chỉ một phần nhỏ được sử dụng trong một thời gian định sẵn (do sự thay răng tiếp diễn và xảy ra trong suốt quãng đời của loài vật này). Kích thước lớn và sự phong phú của răng Triceratops gợi ra rằng chúng ăn cả những phần cây có xơ, như cây cọ hay cây mè và cả những cây dương xỉ mọc trên thảo nguyên.

2. Chức năng của sừng và diềm xương.

Đã có nhiều suy đoán về chức năng của những bộ phận cồng kềnh trên đầu của Triceratops. Hai lý thuyết chính là chúng được dùng trong những trận chiến hay thể hiện lúc ve vãn bạn tình, và quan điểm sau hiện được coi là có lẽ đúng đắn hơn.

Lúc mới đầu, Lull mặc nhiên thừa nhận rằng phần diềm xương là điểm níu giữ phần cơ hàm giúp cho hoạt động nhai, bằng cách tăng kích thước và do đó là lực của cơ. Điều này được nhiều tác giả nêu ra qua nhiều năm, nhưng những nghiên cứu gần đây nhất không tìm ra bằng chứng về những múi cơ lớn bám vào phần diềm xương này.

Triceratops trong một thời gian dài đã được người ta nghĩ là chúng sử dụng sừng và diềm xương trong các trận chiến với các loài săn mồi như Tyrannosaurus, ý kiến này được đề cập lần đầu bởi C. H. Sternberg vào năm 1917 và 70 năm sau đó bởi Robert Bakker. Có bằng chứng cho thấy Tyrannosaurus thực sự đã săn bắt chúng, bởi vì khung xương chậu của một con Triceratops đã được phát hiện ra có dấu răng Tyrannosaurus và sau đó đã lành, cho biết rằng vết thương gây ra khi con vật vẫn đang sống.

Đầu Triceratops nhìn từ phía trước

Từ bên cạnh

Vào năm 2005, một bộ phim tài liệu của BBC, Sự thật về những con khủng long sát thủ, đã thử nghiệm cách Triceratops có thể chống lại những kẻ săn mồi lớn như Tyrannosaurus. Để chứng kiến Triceratops có thể tấn công những con khủng long khác, giống cách của loài tê giác ngày nay, một hộp sọ Triceratops nhân tạo được đẩy về hướng lớp da giả của Tyrannosaurus với vận tốc 24km/h. Những cái sừng đâm thủng bộ da, nhưng cái mũi và phần mỏ khoằm thì không thể, và phần phía trước của hộp sọ đã vỡ. Kết luận được rút ra là Triceratops không thể nào lại tự phòng thủ theo cách này – thay vào đó chúng có lẽ đã đứng yên khi bị những kẻ săn mồi to lớn tấn công, sử dụng những cái sừng để húc khi kẻ săn mồi kia tiến đến đủ gần.

Bên cạnh việc chiến đấu với kẻ săn mồi bằng sừng của mình, Triceratops cũng rất hay được thể hiện trong việc xung đột với nhau với những cái sừng móc vào nhau. Trong khi các nghiên cứu cho thấy rằng hành động như vậy có thể xảy ra, nhưng không có bằng chứng là chúng thực sự làm vậy. Thêm vào đó, mặc dù những vết lõm, lỗ hay thương tổn khác trên sọ Triceratops thường được quy cho là do những cái sừng trong trận đánh, một nghiên cứu gần đây lại không phát hiện ra bằng chứng cho thấy sừng gây ra các vết thương dạng này (chẳng hạn, không có dấu hiệu của sự nhiễm trùng hay sự tự lành). Thay vào đó, những căn bệnh về xương chưa biết đến được giả thuyết là gây ra chúng. Phần diềm xương lớn giúp chúng tăng diện tích cơ thể để điều chỉnh nhiệt độ cơ thể. Giả thuyết tương tự cũng được đưa ra đối với những mảng xương lưng của Stegosaurus.

Học thuyết về việc sừng và diềm xương sử dụng trong việc thể hiện giới tính lần đầu được đưa ra bởi Davitashvili năm 1961 và đã nhận được sự tán thành ngày càng tăng kể từ đó. Một nghiên cứu về hộp sọ Triceratops, được xác định là một con chưa trưởng thành, cho thấy sừng và diềm xương phát triển ở giai đoạn rất sớm, sớm hơn sự phát triển giới tính và do đó có lẽ nó quan trọng cho việc giao tiếp bằng mắt và sự nhận biết về giống loài. 

VI. Xuất hiện trong văn hóa đại chúng

Vẻ bề ngoài đặc của Triceratops đã khiến cho chúng thường được đưa vào những bộ phim, trò chơi máy vi tính và các bộ phim tài liệu. Chúng xuất hiện trong phim Công viên kỷ Jura, một con đang ốm và được con người chăm sóc. Những con Triceratops linh động hơn cũng được thấy trong 2 phần tiếp theo của bộ phim. Chúng cũng nổi bật trong ba bộ phim tài liệu chính về khủng long: Dạo chơi với khủng long, Sự thật về những con khủng long sát thủ và Công viên thời tiền sử. 

Triceratops hay được biết với cái tên “3 sừng” bởi vì 3 cái sừng nổi bật trên đầu và mũi chúng. Cái tên viết tắt Trike là một tên thân mật thông thường của Triceratops và thường dùng để chỉ con vật này trong seri sách thiếu nhi và phim hoạt hình Harry and His Bucket Full of Dinosaurs. Nhân vật “Baby Bop” trong seri truyền hình “Barney và những người bạn” là ví dụ khác về Triceratops trong các phương tiện thông tin đại chúng.

Các cảnh đặc biệt là trong sách cho trẻ em thường thể hiện trận chiến giữa Triceratops và T. rex. Hai loài này thường được mô tả và được nghĩ như những kẻ thù tự nhiên của nhau. Một trận đánh đáng nhớ nhưng lỗi thời với loài khủng long Ceratosaurus thay thế cho T. rex được thể hiện nổi bật trong phim “One Million Years B.C”

Triceratops xuất hiện trong những trò chơi điện từ có nguồn gốc từ loạt phim Công viên kỷ Jura, như những game tên là Jurassic Park: Chaos Island và Turok: Dinosaur Hunter hay game Dino Crisis 2. Triceratops cũng là nhân vật chính trong loạt game Zoo Tycoon. Nó cũng là loài vật phổ biến được sử dụng trong các trò chơi được thiết kế bởi Rareware, bao gồm Diddy Kong Racing và Starfox Advantures.

Triceratops (chưa nhận dạng được tên loài) còn là hóa thạch đại diện chính thức cho bang South Dakota, và là loài khủng long đại diện chính thức cho bang Wyoming.

Triceratops được vẽ bởi Charles R. Knight

Triceratops được phục dựng.

No comments:

Post a Comment

Các bạn hãy trả lời Mail để nhận sách miễn phí nha

Văn Bản

RubyBook

Chào mừng các bạn đến với trang blog của mình.Nếu cần những cuốn sách nào theo yêu cầu của các bạn xin gửi mail cho mình theo địa chỉ mail bên dưới nhé




Liên Hệ Với Chúng Tôi

Name

Email *

Message *