• Vestibulum quis diam velit, vitae euismod ipsum

    Etiam tincidunt lobortis massa et tincidunt. Vivamus commodo feugiat turpis, in pulvinar felis elementum vel. Vivamus mollis tempus odio, ac imperdiet enim adipiscing non. Nunc iaculis sapien at felis posuere at posuere massa pellentesque. Suspendisse a viverra tellus. Nam ut arcu et leo rutrum porttitor. Integer ut nulla eu magna adipiscing ornare. Vestibulum quis diam velit, vitae euismod ipsum? Quisque ...

  • Aliquam vel dolor vitae dui tempor sollicitudin

    Proin ac leo eget nibh interdum egestas? Aliquam vel dolor vitae dui tempor sollicitudin! Integer sollicitudin, justo non posuere condimentum, mauris libero imperdiet urna, a porttitor metus lorem ac arcu. Curabitur sem nulla, rutrum ut elementum at, malesuada quis nisl. Suspendisse potenti. In rhoncus ipsum convallis mauris adipiscing aliquam. Etiam quis dolor sed orci vestibulum venenatis auctor non ligula. Nulla ...

  • Nam ullamcorper iaculis erat eget suscipit.

    Etiam ultrices felis sed ante tincidunt pharetra. Morbi sit amet orci at lorem tincidunt viverra. Donec varius posuere leo et iaculis. Pellentesque ultricies, ante at dignissim rutrum, nisi enim tempor leo, id iaculis sapien risus quis neque. Ut sed mauris sit amet eros tincidunt adipiscing eu vitae lectus. Class aptent taciti sociosqu ad litora torquent per conubia nostra, per inceptos ...

Archive for April 2012

Công ty Thụy Điển Saab đã nhận được đơn đặt hàng của hải quân Thái Lan để hiện đại hóa hệ thống chỉ huy và kiểm soát của tàu sân bay HTMS Chakri Naruebet.


HTMS Chakri Naruebet (wikipedia.org)

Hợp đồng trị giá 180 triệu Krona Thụy Điển (26,7 triệu USD).

Trong quá trình hiện đại hóa, tàu sẽ được trang bị hệ thống chỉ huy tối tân 9LV Mk4. Ngoài ra, Saab còn trang bị cho tàu các hệ thống truyền dữ liệu mới để phối hợp hoạt động với các tiêm kích Gripen và máy bay chỉ huy/báo động sớm Saab 340 Erieye hiện có của Thái Lan. Việc hiện đại hóa tàu sân bay Chakri Naruebet sẽ hoàn thành vào năm 2015.

Chakri Naruebet do hãng đóng tàu Bazan (Tây Ban Nha) đóng và được đưa vào trang bị hải quân Thái Lan vào tháng 3/1997. Tàu có lượng giãn nước 11.400 tấn, chiều dài 182,6 m, tốc độ đến 25,5 hải lý/h (47,2 km/h) và cự ly hành trình đến 19.000 km.
Tàu có thủy thủ đoàn 455 người, trong đó có 62 sĩ quan. Không đoàn trên tàu Chakri Naruebet gồm 146 người. Trên boong tàu có thể bố trí đến 14 máy bay và trực thăng (các cường kích Harrier và trực thăng Sikorsky Sea Hawk S-70). Tàu được trang bị 2 bệ phóng tên lửa phòng không Mistral, mỗi bệ mang 6 tên lửa...

Theo Flightglobal MiliCAS, Thái Lan hiện có 2 tiêm kích một chỗ ngồi Saab JAS 39 Gripen C và 4 chiếc hai chỗ ngồi Gripen D. Ngoài ra, không quân Thái Lan còn có một máy bay chỉ huy/báo động sớm Saab 340 (AEW). Trong tương lai, Thái Lan sẽ nhận thêm 1 chiếc Saab 340 và 6 Gripen C.

Washington đã hủy bỏ các biện pháp trừng phạt đối với Ấn Độ vốn cấm Ấn Độ tiếp cận các công nghệ quân sự tiên tiến của Mỹ, trợ lý ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề chính trị-quân sự Andrew Shapiro cho biết.

Nay Washington coi Delhi là đồng minh chứ không phải là đối tác. Các hãng Ấn Độ giờ đây sẽ có thể tiếp cận các công nghệ mà chỉ các đồng minh then chốt của Mỹ mới được phép.

Theo ông Shapiro, trong năm qua, nhiều công ty Ấn Độ đã đề nghị Mỹ bán giấy phép công nghệ và chỉ trong 1% các trường hợp là bị từ chối. Hơn nữa, đa số các trường hợp bị từ chối là do các công ty Ấn Độ đã chuẩn bị giấy tờ sai hay không đầy đủ. “Ngoài ra, việc xem xét mỗi đơn của các công ty Ấn Độ đã rút ngắn từ 30-40 ngày xuống còn trung bình 17 ngày”, ông Shapiro nói.

Một bằng chứng cho chính sách đã thay đổi của Mỹ đối với Ấn Độ là việc các công ty Mỹ đã cho các biến thể tiêm kích hiện đại nhất của mình dự cuộc thầu mua 126 tiêm kích MMRCA của Ấn Độ. Đó là các tiêm kích F-16IN Super Viper và F/A-18 Super Hornet. Không quân Ấn Độ đã chọn tiêm kích Rafale của Pháp. Tháng 1/2011, Lầu Năm góc đã đề nghị Ấn Độ tham gia chương trình phát triển F-35 Lightning II, nhưng sau đó Delhi đã từ chối.

Theo ông Shapiro thì nay Mỹ dự định từ bỏ nguyên tắc “mua-bán” với Ấn Độ để chuyển sang giai đoạn hợp tác phát triển các công nghệ mới. “Chúng tôi muốn giúp Ấn Độ tạo ra các công nghệ mà họ cần để bảo vệ các lợi ích của mình”, ông Shapiro nói.

Trong vài năm gần đây, hợp tác kỹ thuật quân sự Mỹ-Ấn đã tăng cường đáng kể. Theo Viện Nghiên cứu hòa bình Stockholm SIPRI, năm 2010, Mỹ đã cung cấp cho Ấn Độ sản phẩm quân dụng trị giá 51 triệu USD, năm 2011 là 190 triệu USD. Nhưng tổng trị giá các hợp đồng Ấn Độ đã ký với Mỹ đến nay đã lên tới 8 tỷ USD.

Bách khoa các loài động vật mới và tái phát hiện (The Encycloapedia of New and Rediscovered Animals) là cuốn sách mới của nhà động vật học người Anh Karl Shuker, mô tả những động vật mới và tái phát hiện đáng chú ý nhất trong thế kỷ qua.
Đáng chú ý nhất là sự phát hiện ba loài động vật: hươu đùi vằn (năm 1901, Cộng hòa Congo), cá vây tay (1938, vùng biển Nam Phi) và sao la (1992, Việt Nam). Đây là ba loài mang những nét rất riêng, không thể nhầm lẫn với bất kỳ loài nào khác.
Sao la và hươu đùi vằn nổi bật trên ảnh bìa cuốn sách
Sao la và hươu đùi vằn nổi bật trên ảnh
bìa cuốn sách - (Ảnh: mongabay.com)
Sao la (tên khoa học Pseudoryx nghetinhensis) còn được mệnh danh là kỳ lân châu Á bởi có sừng thon dài. Đây là một trong những động vật có vú có nguy cơ tuyệt chủng cao nhất trên thế giới, sống ở vùng rừng núi Trường Sơn, Việt Nam.
Vào tháng 5-1992, sao la được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới tại vườn quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Phát hiện có ý nghĩa đặc biệt vì giới khoa học cho rằng khó lòng hi vọng tìm được loài động vật có vú nào trong các đợt khảo sát từ 1980-1990 tại khu vực rừng núi Trường Sơn - nơi trước kia đã xảy ra chiến tranh ác liệt.
Sao La
Sao la
Ông Shuker cho hay mỗi năm có khoảng 20.000 loài mới trên thế giới được mô tả bởi các nhà khoa học, và ông hi vọng bạn đọc sẽ tìm thấy những điều thú vị về những loài mới phát hiện nổi bật nhất khi đọc cuốn sách này.

Con Sao la - một loài thú móng guốc quý hiếm - được ví là con “Kỳ lân châu Á”, vì nhiều người cho rằng nó chỉ còn trong truyền thuyết, đã được các nhà khoa học tìm ra một cách “ly kỳ” từ việc phân tích các ADN lấy từ máu trong ruột đỉa ở địa phương.
Các nhà khoa học đã biết rằng ADN của một loài động vật có vú mà đỉa từng hút máu, được lưu trữ trong ruột đỉa trong thời gian đủ dài để từ đó truy nguyên ra loài vật đó. Để khẳng định xem phương pháp này có thể áp dụng được không, họ đã bắt 26 con đỉa nuôi bằng máu dê trong 4 tháng liền. Từng thời gian một, họ lấy máu đỉa ra, nhân bản bằng phương pháp PCR và phân tích. Kết quả là đã phát hiện ra ADN trong ty lạp thể DNA của dê. Chứng tỏ, đây là phương pháp có hiệu quả để truy tìm con vật huyền thoại.
Các đồng nghiệp người Việt đã giúp họ thu thập những con đỉa nhỏ có tên khoa học là Haemadipsa, sống trên vùng nghi ngờ là vẫn còn sót lại những con Sao la sinh sống, trên dãy Trường Sơn (Trung Bộ), và gửi ra nước ngoài phân tích ADN. 21 trong số 25 con đỉa đã tìm được ADN của nhiều loài động vật có vú có nguồn gốc khác nhau. Trong mỗi con đỉa chỉ có ADN của một loài động vật cụ thể, của một lần hút máu cuối cùng. Một mẫu lạ được coi là của Sao la.
Công nghệ tìm kiếm vừa được công bố trên tạp chí Current Biology và tóm tắt trên trang mạng NatureNews
Công nghệ tìm kiếm vừa được công bố trên tạp chí
Current Biology và tóm tắt trên trang mạng NatureNews
Tuy chưa tìm được nơi ở chính xác của Sao la, nhưng các nhà khoa học tin rằng những kết quả của thí nghiệm là tích cực. Họ hy vọng tìm thấy ADN của loài động vật móng guốc ngón lẻ loại hiếm này nếu như mở rộng diện tích vùng nghiên cứu. Các nhà khoa học cho rằng Sao la, bò rừng, linh dương không thể vượt qua biên giới Việt Lào.
Sau đó, các nhà khoa học vô tình nhìn thấy hộp sọ của loài vật họ đang tìm kiếm treo trên vách của ngôi nhà một người dân địa phương săn được năm 1993. Sau khi ăn thịt con vật, người đi săn đã giữ lại sọ của nó làm vật trang trí trong nhà.
Bức ảnh đầu tiên của Sao la còn sống được chụp vào năm 1996, khi người địa phương bắt được vài con. Nhưng vài thập kỷ qua chẳng ai thấy con Sao la nữa. Mãi đến năm 2010, người dân địa phương mới bắt được một con Sao la cái, vì nuôi nhốt nên vài ngày sau nó đã chết. Đây là loại chỉ còn lại một vài cá thể, được liệt vào loại cực kỳ nguy cấp, có nguy cơ tuyệt chủng.
Thật sự là khó khăn trong nghiên cứu những loài còn sót lại sống ẩn náu và số lượng cực kỳ ít. Trước khi phát hiện ra phương pháp truy tìm chúng nhờ vết máu chứa ADN từ ruột đỉa, một trong những tác giả là Nicholas Wilkinson, đã thất bại trong việc thử tìm Sao la bằng cách bố trí những máy quay phim tự động, thậm chí dùng cả chó săn để lùng sục. Nay các tác giả tin rằng sau 10 năm hoàn thiện thì phương pháp dựa trên ADN để tìm kiếm dấu vết các loài trong môi trường sẽ trở thành phương pháp chủ yếu để dò tìm ra một loài mới.
Để có được thông tin về nơi sinh sống của những loài động vật quý hiếm, đôi khi các nhà khoa học áp dụng các phương pháp phi truyền thống. Chẳng hạn gần đây các nhà động vật học đã dùng những con rận màu hồng để nghiên cứu quần thể vượn cáo ở Madagascar.

Các chuyên gia Mỹ vừa phát hiện một loài ong mới kiếm ăn theo cách hết sức bất thường tại thành phố New York: liếm mồ hôi người để sống.
Một loài ong mới đang vi vu tại thành phố có biệt danh “quả táo lớn” của Mỹ. Loại côn trùng nhỏ xíu, cỡ bằng hạt mè, chủ yếu kiếm ăn trên mồ hôi người, theo nghĩa đen.
Ong mồ hôi tại NewYork
Ong mồ hôi tại NewYork
Tờ The Wall Street Journal dẫn lời nhà côn trùng học John Ascher của Viện Bảo tàng lịch sử tự nhiên Mỹ cho biết những con ong này cứ đậu lên tay và nhấm nháp vị mặn của mồ hôi người.
Bắc Mỹ là quê nhà của hàng ngàn loài ong bản địa, nhưng từ lâu chúng đã bị lãng quên trước đồng loại ong mật nhập cư, vốn cho mật và sáp ngon ngọt hơn.
Do vậy, khi bắt được những chú ong kỳ lạ này tại công viên Prospect ở Brooklyn vào năm 2010, nhà khoa học Ascher phải mất nhiều thời gian mới xác định được danh tính của nó, nhờ sự hỗ trợ của chuyên gia Jason Gibbs tại Đại học Cornell.
Khác với đồng loại châu Âu, ong mồ hôi không làm ra nhiều mật, nhưng hiếm khi đốt người. Chúng rất ưa thích các con mồi là những người hay đổ mồ hôi nhiều, theo chuyên gia Ascher.


Sau hai thập kỷ nghiên cứu một loại vi sinh vật ăn tảo sống trong một hồ ở Na Uy, các nhà khoa học ngày 26/4 tuyên bố đây là một trong những cơ thể sống cổ xưa nhất trên thế giới và là họ hàng xa nhất của con người.
Hãng tin AFP dẫn lời các nhà nghiên cứu nói rằng loại sinh vật đơn bào này tiến hóa khoảng 1 tỷ năm trước và không thuộc bất cứ loại cơ thể sống nào, gồm động vật, thực vật, thực vật ký sinh, nấm hay tảo.
Collodictyon
Collodictyon
“Chúng tôi đã tìm thấy một nhánh chưa từng biết đến của cây phát sinh loài (tree of live) sinh sống trong hồ này. Đến nay chúng tôi chưa biết đến nhóm cơ thể sống nào khác phát triển từ chỗ gần với cội rễ của cây phát sinh loài hơn so với loài này", nhà nghiên cứu Kamran Shalchian-Tabrizi tại Đại học Oslo khẳng định, đồng thời cho biết loại cơ thể sống mới này được đặt tên là Collodictyon.
Collodictyon
Các nhà khoa học tin rằng phát hiện này có thể giúp cung cấp hiểu biết sâu về sự sống trên Trái Đất cách đây hàng trăm triệu năm.
Collodictyon sống trong bãi lầy của một hồ nhỏ cách Oslo 30km về phía Nam.
Nó có 4 roi, là bộ phận giống mái chèo có tác dụng đẩy cơ thể về phía trước, và chỉ có thể quan sát được bằng kính hiển vi với chiều dài cơ thể 30-50 micromét (1 micromét bằng một phần triệu mét).


Kết quả một công trình nghiên cứu công bố trên tờ Khoa học (Mỹ) ngày 26/4 đã hé lộ cách người nông dân sống ở thời kỳ đồ đá di cư từ vùng Địa Trung Hải lên phía Bắc để sinh sống bằng nghề săn bắn, hái lượm.
Nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học của Thụy Điển và Đan Mạch đã phát hiện bí mật trên sau khi tiến hành phân tích mẫu DNA của bốn mẫu khảo cổ người châu Âu sống ở thời kỳ đồ đá.
Phát hiện này giúp khai sáng một vấn đề vẫn luôn gây tranh cãi trong lịch sử loài người lâu nay - đó là nền văn minh nông nghiệp đã dịch chuyển từ Trung Đông đến châu Âu như thế nào.
Nông nghiệp châu Âu có nguồn gốc từ Trung Đông
Trước nay, các nhà khoa học cho rằng nghề nông bắt nguồn từ Trung Đông cách đây khoảng 11.000 năm, và đã vươn tới hầu hết lục địa châu Âu vào khoảng 5.000 trước.
Phát hiện mới nhất đưa ra giả thuyết rằng kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt đã được dân cư sống ở khu vực Địa Trung Hải du nhập vào châu Âu và đưa bí quyết của họ vào nghệ thuật săn bắn - hái lượm ở bán cầu Bắc.
Nhóm nghiên cứu đi đến kết luận này sau khi sử dụng phương pháp phân tích DNA tiên tiến đối với bốn mẫu khảo cổ người tiền sử còn sót lại ở Thụy Điển - được xác định là một nông dân và ba "chuyên gia" săn bắn hái lượm sống cách đây khoảng 5.000 năm.
So sánh dữ liệu gene của hai nhóm người đến từ hai nền văn hóa khác nhau, sống vào cùng một thời kỳ nhưng cách nhau khoảng 400km về mặt địa lý này với dữ liệu gene của người hiện đại ở châu Âu, các nhà khoa học nhận thấy những người sống bằng nghề săn bắn - hái lượm ở thời kỳ đồ đá có nhiều khác biệt về gene so với người hiện đại nhưng giống nhất với người Phần Lan, trong khi người nông dân thời tiền sử có cấu trúc gene gần với người Địa Trung Hải.
Trưởng nhóm nghiên cứu cho rằng điều này chứng tỏ nghề nông đã lan rộng khắp châu Âu nhờ làn sóng di dân từ Địa Trung Hải lên phía Bắc.
Cuối cùng, nhóm nghiên cứu kết luận người châu Âu ngày nay có ảnh hưởng gene rất mạnh từ những nông dân di cư ở thời kỳ đồ đá, thông qua một số gene của tộc người săn bắn - hái lượm sống cùng thời kỳ.


Các nhà địa hoá dày công nghiên cứu để định tuổi và dựng lại lịch sử trái đất và hệ mặt trời. Họ sử dụng hiện tượng phân rã phóng xạ như những chiếc "đồng hồ tự nhiên".
Hai loại “đồng hồ” đặc biệt này chính là hai nguyên tố hoá học Samarium (ký hiệu là Sm) và Uranium (U) tồn tại ngay trong các mẫu đá cổ.
Độ chính xác của những chiếc “đồng hồ tự nhiên” đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc dựng lại chính xác lịch sử hình thành và tiến hoá của vũ trụ, cụ thể là hệ mặt trời và quả đất chúng ta.
Chẳng hạn, "nếu có một sự kiện quan trọng trong lịch sử của trái đất, ví dụ như sự tuyệt chủng của một loài hoặc biến đổi khí hậu, hoặc do tác động của thiên thạch, người ta cần biết các tuổi tuyệt đối của sự kiện với độ tin cậy cao nhất", ông Joe Hiess (Hội địa chất Anh) người chủ trì một trong các nghiên cứu nói. Tuổi tương đối cũng cần thiết, vì: "trong Khoa học Trái Đất cũng cần phải xác định các sự kiện nào xảy ra trước, sự kiện gì xảy ra sau".
Tuy nhiên, theo Tạp chí Newscientist, các kết quả nghiên cứu mới đây chỉ ra rằng hai loại “đồng hồ tự nhiên” tốt nhất của các hệ mặt trời cũng đã bộc lộ các sai lệch nhất định.
Zircon giúp nhìn về quá khứ
Zircon giúp nhìn về quá khứ (Ảnh: Science/AAAS)
Đó là, một đồng vị phóng xạ của nguyên tố Samarium phân rã nhanh hơn nhiều hơn so với các nghiên cứu trước đây, và các đồng vị khác nhau của Uranium không phải lúc nào cũng xuất hiện theo tỉ lệ giống nhau trong các loại đá trên trái đất. Do vậy, tuổi của các đá cổ nhất được xác định sai lệch đến hàng triệu năm.

"Đồng hồ“ Samarium

Các nhà địa hóa định tuổi của đá cổ bằng cách đo tỉ lệ của các đồng vị phóng xạ của cùng một nguyên tố trong mẫu đá. Vì tốc độ phân rã (hay chu kỳ bán rã - khoảng thời gian lượng đồng vị phóng xạ giảm ½) của các đồng vị phóng xạ này là không đổi, nên có thể định tuổi của đá nếu biết tỉ lệ của các đồng vị trong đá.
Dĩ nhiên, phải biết cả chu kỳ bán rã của chúng. Và nếu giá trị của chu kỳ bán rã không chính xác thì kết quả định tuổi cổ vật sẽ sai lệch.
Một trong những đồng vị thường được chọn để xác định những sự kiện xảy ra trong thời sơ khai của hệ mặt trời là Samarium Sm-146, một đồng vị kim loại nặng, ánh kim được tìm thấy trong nhiều khoáng vật của vỏ trái đất.
Các nhà khoa học từng đo chu kỳ bán rã của Sm-146 bốn lần trong 60 năm qua và thu được các kết quả khác nhau cho mỗi lần đo. Hai kết quả mới nhất dường như phù hợp với nhau với thời gian bán rã là 103 triệu năm với sai số cộng trừ 5 triệu năm.
Nhưng Paul và cộng sự ngờ rằng kết quả này không đúng lắm. Họ sử dụng một công nghệ gọi là khối phổ gia tốc (accelerator mass spectrometry), mà Paul cho rằng công nghệ này có ít sai số thực nghiệm.
Họ phát hiện ra rằng chu kỳ bán rã chỉ có 68 triệu năm, ít hơn 30% so với các kết quả trước đây. Có nghĩa là các đá được định tuổi bằng phân rã của Sm-146, trong đó bao gồm cả các đá có tuổi cổ nhất trên trái đất, mặt trăng, và cả thiên thạch từ sao Hỏa, hình thành sớm hơn từ 20 triệu đến 80 triệu năm so với các nghiên cứu trước đây.

"Đồng hồ“ Uranium

Các đá cổ nhất còn được định tuổi bằng đồng vị của Uranium khi nó phân rã trở thành đồng vị Chì.
Khác với trường hợp đồng hồ “Samari", trong đồng hồ Uranium sự sai lệch định tuổi cổ vật không phải do sai lệch số đo chu kỳ bán rã.
Cho tới vài năm gần đây, các nhà địa hóa vẫn giả định rằng tỉ lệ Uranium U-238 trên U-235 là không đổi, bằng 137,88 trong tất cả các đá. Như vậy chỉ cần đo tỉ lệ của các đồng vị chì là có thể định tuổi của các đá. Nhưng những phép đo với độ chính xác cao cho các vật liệu tìm thấy trong thiên thạch và đá tạo thành ở đại dương đã chỉ ra sự khác biệt.
Hiess và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu rộng lớn nhất về tỉ lệ các đồng vị Uranium, sử dụng 45 mẫu zircon từ khắp mọi nơi trên trái đất. Zircon là một trong những khoáng vật đầu tiên hóa rắn trên trái đất, chống chịu được phong hóa và nóng chảy, giữ được Uranium, và là khoáng vật phù hợp để định tuổi các đá cổ.
Nhóm nghiên cứu phát hiện ra, đa số các mẫu có tỉ lệ đồng vị Uranium giống nhau, nhưng một số mẫu có tỉ lệ rất khác biệt. “Giả định rằng tỉ lệ đồng vị Uranium không biến đổi không còn đúng nữa”.
Nhóm nghiên cứu đưa ra tỉ lệ đồng vị Uranium trung bình mới. Kết quả này làm thay đổi một chút tuổi của các đá cổ nhất, ít hơn khoảng gần 1 triệu năm. Các đá cổ nhất sẽ có kết quả hiệu chỉnh lớn nhất: các đá trầm tích có tuổi 4,4 tỉ năm giờ được xác định trẻ hơn 0,7 triệu năm. Để dễ hình dung, nếu trái đất có tuổi là 18 năm, thì tuổi các đá cổ nhất sẽ bớt đi một ngày.
Giờ đây các nhà khoa học biết họ cần phải đo chính xác tỉ lệ các đồng vị Uranium trong tất cả các mẫu đá, cùng với tỉ lệ các đồng vị chì để định tuổi của các đá chính xác hơn.
Cuối cùng, cũng cần nhấn mạnh rằng độ chính xác của các “đồng hồ thiên nhiên” nói trên có vai trò rất quan trọng trong việc sắp xếp các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ. Chẳng hạn, nếu sự tuyệt chủng hàng loạt xảy ra ngay trước khi thiên thạch lao vào trái đất, sẽ khác hẳn với việc thiên thạch lao vào trái đất trước khi xảy ra sự tuyệt chủng.


Hôm 24/4/2012, tại Hội nghị của Hiệp hội địa chất Hoa Kỳ ở Dayton, Ohio, nhà cổ sinh vật học nghiệp dư Ron Fine Dayton đã thuyết trình hóa thạch một sinh vật bí ẩn, có kích thước rất lớn dài 7 foot (khoảng hơn 2m), sinh sống ở vùng biển nông tại khu vực Cincinati cách đây khoảng 450 triệu năm.
Hóa thạch "quái vật" này đã được Ron Fine Dayton tìm thấy từ năm ngoái trên nền đá có nhiều đất sét. Theo Fine mô tả, hóa thạch rất khác thường, giống như một cây xương rồng Saguaro với các đường sọc ngang xen vào các đường sọc dọc. Ban đầu Fine đã nghĩ tới nó là hóa thạch của san hô, bọt biển hay rong biển. Nhưng qua kiểm tra phát hiện thấy bề mặt hóa thạch không hề mịn mà có kết cấu bất thường.
Hiện các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra lời giải cho hóa thạch này
Hiện các nhà khoa học vẫn chưa tìm ra lời giải cho hóa thạch này (Ảnh: Phys.org)
Suốt hơn 200 năm qua, những tảng đá của khu vực Cincinnati đã được nhiều nhà cổ sinh vật học nghiên cứu. Song hóa thạch kì lạ này thì là lần đầu, khiến cho các nhà cổ sinh vật học chuyên nghiệp cũng phải "gãi đầu" chưa lí giải được.
“Nó chắc chắn là một phát hiện mới. Chúng tôi tin chắc nó là thuộc về sinh học nhưng chúng tôi chỉ không biết chính xác nó là gì”, David L. Meyer thuộc Khoa Đại chất trường Đại học Cincinnati nói.
Cho đến nay, nhóm tác giả nghiên cứu hóa thạch quái vật ở Cincinati chỉ mới lần ra manh mối để hiểu rõ hơn về hóa thạch này. Vì họ phát hiện thấy bên cạnh hóa thạch quái vật là các hóa thạch bọ ba thùy ở phía dưới. Những con bọ này thường tìm nơi trú ẩn bên dưới hóa thạch các loài động vật khác.
Mặc dù vậy, vẫn chưa có bất kỳ bằng chứng nào tương tự như hóa thạch này để khẳng định nó là sinh vật gì. Hóa thạch sinh vật bí ẩn dường như "thách thức" tất cả các nhà sinh vật học ngay cả khi họ đã quan sát thấy hình ảnh. Hiện các nhà sinh vật học vẫn đang mong muốn hợp tác tìm hiểu để đưa ra các giả thuyết tìm hiểu rõ hơn về hóa thạch này.

Nga và Indonesia sẽ ký hợp đồng mua bán một lô 37 xe chiến đấu bộ binh BMP-3F, Phó Tổng giám đốc hãng Rosoboronoexort Viktor Komardin thông báo.

BMP-3F (kurganmash.ru)
Theo ông Komardin, hợp đồng trị giá 100 triệu USD và sẽ được ký trong tháng 4/2012. Kinh phí thực hiện hợp đồng được lấy từ nguồn tín dụng xuất khẩu 1 tỷ USD cho Nga cấp trước đó cho Indonesia. Đến nay, Indonesia đã tiêu gần 300 triệu USD của khoản tín dụng này.

“Chúng tôi yêu cầu phía Indonesia không trì hoãn việc ký kết hợp đồng vì thời hiệu của tín dụng sẽ hết vào tháng 7/2013”, ông Komardin nói và cho biết thêm rằng, Indonesia còn sở hữu một nguồn tín dụng khác (phi nhà nước) của Nga và đã dùng nguồn kinh phí này mua các máy bay tiêm kích.

Indonesia được Nga cấp tín dụng xuất khẩu vào năm 2007 và dự định dùng nguồn tiền này để mua 10 trực thăng vận tải Mi-17, 5 trực thăng tiến công Mi-35М, 20 xe chiến đấu bộ binh BMP-3F và 2 tàu ngầm Projekt 877 Paltus.

Trước đó, Nga đã cung cấp cho quân đội Indonesia 17 BMP-3F. Cuối tháng 1/2012, tờ Koran Jakarta (Indonesia) đưa tin, trong năm nay, Indonesia sẽ nhận được 34 chiếc BMP-3F, sau đó 20 chiếc nữa. Số xe này được mua bằng nguồn tín dụng cấp năm 2007. Sau đó, tờ Izvestia (Nga) cho hay, trong 2 năm tới, Nga sẽ chuyển giao cho Indonesia 60 xe BMP-3F. 

Loài chuột có tên khoa học Crateromys australis, mà người ta quen gọi chuột đám mây, lần đầu tiên được các nhà khoa học thu thập mẫu vào năm 1975 trên đảo Dinagat, Philippines.
Chuột đám mây
Chuột đám mây
Nhưng 20 năm qua người ta không còn nhìn thấy chúng nên cho rằng chuột đám mây đã tuyệt chủng. William Oliver, nhân viên Quỹ bảo tồn đa dạng sinh học Philippines, cho biết chuột đám mây có môi trường sống duy nhất trên đảo Dinagat.
Theo UPI, đầu năm nay, cặp vợ chồng nhà khoa học Milada Rehakova và Vaclav Rehack (Czech) kết hợp đi nghỉ tuần trăng mật và thực hiện nghiên cứu khoa học tại đảo Dinagat. Họ đã lắp đặt các thiết bị và kết quả là đã thu được một đoạn video, đồng thời ghi âm được hoạt động của một con chuột đám mây. Đó là con chuột đã trưởng thành với sắc lông xám - nâu pha vàng, nó sở hữu cái đuôi dài với hai phần màu đen trắng tách biệt. Hình ảnh cho thấy chú chuột hoạt động ở 3 vị trí khác nhau, nó leo trèo và tìm thức ăn trong bụi rậm.
Mặc dù đã tìm thấy lại chuột đám mây nhưng các nhà khoa học vẫn xếp chúng vào nguy cơ tuyệt chủng rất cao vì hoạt động khai thác khoáng sản đang diễn ra tại Dinagat.


Người dân Anh sắp có cơ hội chiêm ngưỡng một gậy phép từng bị chôn vùi cách đây hơn nửa thiên niên kỷ.
Gậy phép và chiếc nhẫn trong một ngôi mộ tại tu viện Furness Abbey.
Gậy phép và chiếc nhẫn trong một ngôi mộ tại tu viện Furness Abbey.
Trong lúc sửa chữa tu viện cổ Furness Abbey ở thành phố Barrow-in-Furness, hạt Cumbira, Anh vào năm 2010, các công nhân tình cờ phát hiện một gậy phép và một chiếc nhẫn, ITV đưa tin.
Chiếc gậy phép, được làm bằng đồng, là vật mà chỉ những người nắm chức vụ cao trong giáo hội Thiên Chúa có quyền giữ. Nó nằm trong một ngôi mộ chưa từng bị khai quật ở chính điện, vị trí cao quý nhất trong tu viện. Đó là mộ của một người từng đứng đầu tu viện, song danh tính của người này vẫn là một bí ẩn. Các chuyên gia cho rằng ngôi mộ được xây từ thập niên 50 của thế kỷ 12.
Trước đây chỉ những người nắm giữ chức vụ cao trong nhà thờ được quyền giữ gậy phép.
Trước đây chỉ những người nắm giữ chức vụ cao trong nhà thờ được quyền giữ gậy phép.
Phần trên của gậy phép được làm bằng đồng. Nghệ nhân xưa trang trí nó bằng huy chương mạ bạc có hình ảnh thánh Michael, tổng quản thiên thần, đánh bại một con rồng, và đầu một con rắn. Phần gỗ ở cán gậy và miếng vải bọc cán vẫn còn nguyên.
Được khánh thành vào năm 1124, tu viện Furness Abbey từng là một trong những tu viện lớn và giàu nhất tại Anh. Ngày nay người ta có thể cảm nhận vị thế và mức độ giàu của tu viện khi chiêm ngưỡng những viên sa thạch đỏ còn sót lại.
Gậy phép và chiếc nhẫn nạm đá quý sẽ được trưng bày tại tu viện Furness Abbey từ ngày 4 tới 7/5.

Siêu mẫu Candice Swanepoel khoe thân hình hoàn mỹ như tạc khắc với đường cong nóng bỏng trong bộ ảnh mới.


Scarlett Johansson nói rằng, cô không hiểu vì sao mọi người lại coi cô là biểu tượng cho vẻ đẹp gợi tình của Hollywood.


Scarlett Johansson
Scarlett Johansson hút hồn bao ánh mắt thèm muốn bởi đường cong nóng bỏng.

Nữ diễn viên 27 tuổi được kênh truyền hình Mỹ Channel 4 gọi là "biểu tượng sex vô song" của thế kỷ 21. Scarlett cũng nhiều lần được bầu chọn là ngôi sao điện ảnh gợi cảm nhất thế giới trên các tạp chí như Maxim, GQ, Playboy, Empire... Cô đào tóc vàng khiến biết bao người đàn ông khao khát bởi vẻ đẹp nồng nàn quyến rũ, tuy nhiên cô lại không nghĩ mình là một phụ nữ hấp dẫn.
Khi được hỏi cảm nghĩ khi được gọi là "sexy icon", Scarlett nói: "Tôi không biết nữa. Tôi không nghĩ mình giống như vậy. Tôi tin chắc rằng trong vài năm tới, danh hiệu này sẽ thuộc về một ai đó. Tôi không thấy hứng thú khi được gọi như vậy".
Scarlett Johansson không biết vì sao mình lại có danh hiệu đó, bởi cô không có những vai diễn quá nóng bỏng. Cô chia sẻ trên Empire: "Tôi thực sự không có nhiều vai diễn sexy. Tất nhiên cũng có một số vai như trong phim Match Point hay Black Dahlia,nhưng những vai diễn này cũng không thực sự nóng theo kiểu truyền thống... Tôi nghĩ, có thể là do tôi có đường cong và tự tin với cơ thể của mình".

Scarlett Johansson
Scarlett Johansson khoe dáng trên biển.

Scarlett Johansson từng làm điêu đứng rất nhiều anh chàng hào hoa của Hollywood, từ Justin Timberlake, Josh Hartnett, Ryan Reynolds... tới Sean Penn. Người đẹp ly hôn với tài tử Ryan Reynolds cuối năm 2010 và giờ vẫn là cô nàng độc thân quyến rũ.

Katsia Zingarevich là một siêu mẫu nội y đình đám nhưng ít người biết rằng cô còn là phu nhân của tân chủ tịch CLB Reading, Anton Zingarevich.


Tân chủ tịch Reading bên cô vợ xinh đẹp trong một lần đến sân Madejski.
Tân chủ tịch Reading bên cô vợ xinh đẹp trong một lần đến sân Madejski. Ảnh: Getreading.

Katsia Zingarevich năm nay 23 tuổi, là một siêu mẫu người Belarus. Cô được nhiều người biết đến trong vai trò người mẫu nội y của hãng Victoria's Secret. Tuy nhiên, ít người biết rằng Katsia còn là phu nhân của Anton Zingarevich, một thương gia giàu có người Nga, người vừa trở thành chủ tịch mới của CLB Reading.
Sau chiến thắng 1-0 trước Nottingham Forest hôm qua, Reading trở thành CLB đầu tiên ở giải hạng nhất Anh giành quyền lên chơi tại Premier League mùa bóng tới. Chính vì thế, mặc dù Premier League năm nay đang bước vào giai đoạn nước rút hấp dẫn, nhiều fan đã tỏ ra nóng lòng chờ mùa giải mới khởi tranh để được ngắm vẻ đẹp bốc lửa của Katsia Zingarevich trên khán đài.
Ngắm vẻ gợi cảm của Katsia Zingarevich:

Spinosaurus (nghĩa là thằn lằn xương sống) là một chi khủng long đứng bằng 2 chân (theropod), sống ở nơi mà ngày nay là Bắc Phi, từ thế Alba đến đầu thế Cenoman của kỷ Phấn Trắng, tức là khoảng 100 đến 93 triệu năm trước đây. Chi này được biết đến đầu tiên từ các vết tích ở Ai Cập được phát hiệno năm 1910được mô tả bởi nhà cổ sinh học người Đức Ernst Sromer. Những mẫu vật nguyên bản này đã bị phá hủy trong chiến tranh thế giới thứ 2. Người ta cũng không rõ rằng có một hay hai loài điển hình trong các mẫu hóa thạch đã được mô tả. Loài được biết nhiều nhất là Spinosaurus aegyptiacus (S. aegyptiacus) từ Ai Cập, mặc dù rất có khả năng là tồn tại một loài thứ 2, Spinosaurus marocannus (S. marocannus) từ Ma rốc.
Phần xương sống đặc biệt của Spinosaurus, với sự duỗi dài của các đốt sống, phát triển lên đến 2m chiều dàicó lẽ có phần da liên kết chúng lại, trông giống như cấu trúc của một cánh buồm, mặc dù mộti người đưa ra giả thuyết rằng chúng được cơ bắp bao phủcó dạng một cái bướu. Nhiều chức năng đa dạng đã được đề xuất cho kết cấu này, bao gồm sự điều chỉnh nhiệtsự phô trương hình thức. Theo như các ước lượng gần đây, Spinosaurus là loài vật lớn nhất trong tất cả các loài khủng long ăn thịt đã từng được biết đến từ trước đến nay, thậm chí nó lớn hơn cả Tyrannosaurus rexGiganotosaurus. Những ước lượng này đề xuất rằng nó dài khoảng từ 16 đến 18mnặng 7 đến 9 tấn.

Spinosaurus aegyptiacus

I. Mô tả
Mặc dù Spinosaurus nổi tiếng đối với những người say mê khủng long bởi kích cỡ của nó, cánh buồmcái sọ thon dài, nó chủ yếu được biết đến từ những vết tích xương cốt đã bị phá hủy, ngoại trừ mộti phần xương sọrăng mới được khám phá ra gần đây. Thêmo đó, cho đến bây giờ chỉ mới có hộp sọxương sống là được mô tả chi tiết,xương chi vẫn chưa được tìm thấy. Phần hàmhộp sọ được công bố năm 2005 cho thấy rằng nó là một trong những loài có cái sọ dài nhất trong tất cả các loài khủng long ăn thịt, được ước tính dài khoảng 1,75m. Phần đầu của nó có một cái mõm hẹp đầy những cái răng hình nón thẳng. Có 6 hoặc 7 cái răng ở mỗi bên của phần trước của hàm trên, tức là trên xương hàm trước,12 chiếc khác ở hàm trên phía sau. Chiếc răng thứ 2thứ 3 ở mỗi bên đáng chú ý ở chỗ nó lớn hơn những chiếc còn lại của xương hàm trước. Cánh buồm của Spinosaurus được định hình bởi những gai đốt sống dài phát triển trên xương sống lưng. Những gai đốt sống này cao hơn 7 đến 11 lần so với phần đốt sống mà chúng mọc lên. Phần xương sống này không giống như ở những loài như EdaphosaurusDimetrodon.

Đầu của Spinosaurus

II. Phân loại
Spinosaurus được đặt tên dựa theo họ khủng long Spinosauridae, họ này bao gồm một số chi khác như Baryonyx ở phía Nam nước Anh, IrritatorAngaturama ở Brazil, Suchominus ở Nigercó thể cả Siamosaurus, vốn chỉ được biết từ các mảnh vụn nhỏ ở Thái Lan. Spinosaurus có quan hệ gần gũi nhất với Irritator, cả 2 cùng có những cái răng nhẵn thẳng,đều nằm trong phân họ Spinosaurinae.o năm 2003, Oliver Rauhut đề xuất rằng mẫu gốc của Stromer về Spinosaurus là một mẫu hóa thạch hỗn tạp lắp ráp từ nhiều loài khác nhau, xương sống lưng là từ một loài họ Carcharodontosauridae giống như Acrocanthosaurushàm dưới là từ một loài khủng long hai chân lớn như Baryonyx. Tuy nhiên phân tích này đã bị bác bỏ trong những bài báo gần đây.

III. Sự khám phácác loài
Vết tích được ghi nhận đầu tiên của Spinosaurus được tìm thấy ở thung lũng Bahariya của Ai Cập năm 1912,được đặt tên bởi nhà cổ sinh học Đức Ernst Stromer năm 1915. Những mảnh vụn bổ sung từ Bahariya, bao gồm xương sốngxương chân sau, được Stromer coi là một loài “Spinosaurus B”o năm 1934. Stromer đã cân nhắc là chúng đủ mức độ khác biệt để thuộc về một loài khác,điều này đã được xác nhận, với sự tiến bộ về các tài liệu thám hiểm, nó thuộc về loài Carcharodontosaurus hoặc loài Sigilmassasaurus. Một số hóa thạch Spinosaurus đã bị hư hại trong khi vận chuyển về bảo tàng Đức ở Munichnhững phần xương còn sót lại cũng đã hoàn toàn biến mất bởi những trận ném bom của quân Đồng Minh năm 1944.
Đã có 2 loài Spinosaurus được đặt tên: Spinosaurus aegyptiacus (nghĩa là thằn lằn xương sống Ai Cập)Spinosaurus marocannus (nghĩa là thằn lằn xương sống Ma rốc). S. marocannus lúc đầu được xác định bởi Dale Russell với tư cách là một loài mới dựa trên độ dài của các đốt sống cổ của nó. Các nhà khoa học hiện có 2 ý kiến về loài này, một số người cho rằng độ dài của các đốt sống biến đổi giữa các cá thể khác nhaudo đó coi S. marocannus là loài không tồn tại hoặc trùng với S. aegyptiacus, còn những người khác lại coi loài này là có thật.
Có 6 mẫu vật không hoàn chỉnh của Spinosaurus đã từng được mô tả. Kích cỡ có thể có của những cá thể Spinosaurus có thể được ước lượng bằng cách so sánh giữa các tài liệu đã biết với những loài khủng long khác thuộc họ Spinosauridae.
- Mẫu vật IPHG 1912 VIII 19, được xác định bởi Strormer năm 1915 là một mẫu gốc. Mẫu vật này từ một cá thể gần trưởng thành đã bị phá hủy trong Chiến tranh thế giới thứ 2. Tuy nhiên, các bản vẽcác bản mô tả chi tiết về nó vẫn còn tồn tại. Cá thể này được ước tínho khoảng 14m chiều dàicó khối lượng khoảng 6,7 tấn. Hóa thạch này gồm có một mảnh của hàm trên, một phần hàm dưới không hoàn chỉnh dài khoảng 750mm (hộp sọ ước tính dài 1,45m với phần hàm đưới khoảng 1,34m), 19 chiếc răng, 2 đốt sống cổ không đầy đủ, 7 đốt sống lưng, những cái xương sườn,8 đốt sống đuôi. Đây là mẫu vật mà Rauhut nghĩ là sự hỗn tạp từ nhiều loài.

Phục dựng mẫu vật của Strormer

- Mẫu vật CMN 50791 được Russell định rõ năm 1996, là mẫu gốc điển hình của loài Spinosaurus marocannus. Nó bao gồm một đốt sống giữa cổ dài 195mm, một phần trên đốt sống lưng, một phần trướcgiữa hàm dưới.
- Mẫu vật MNHN SAM 124 được TaquetRussell định rõ năm 1998, bao gồm phần xương hàm trênhàm trước không hoàn chỉnh, những mảnh xương lá míamột mảnh vụn hàm dưới. Chúng thuộc về một cá thể ước tính dài khoảng 14mnặng 6,7 tấn. Hộp sọ dài khoảng 1,42m.

Hóa thạch hàm S. marocannus tại bảo tàng Paris

- Mẫu vật Office National des Mines nBM231 được định rõ bởi BuffetautOuaja năm 2002, gồm có một phần phía trước hàm dưới từ Tunisia, rất giống với S. aegyptiacus.
- Mẫu vật MSNM V4047, được định rõ bởi Cristiano Dal Sasso của bảo tàng lịch sử tự nhiên thành phố Milancác cộng sự của ông năm 2005, gồm có xương hàm trước, một phần hàm trênxương mũi, chúng đo được 988mm chiều dàitoàn bộ con vật ước tính dàio khoảng 16 đến 18mnặng từ 7 đến 9 tấn.
- Mẫu vật UCPC-2, cũng được xác định bởi Dal Sasso năm 2005, có một chỏm xương ở khu vực đằng trước đôi mắt.

Mẫu vật S. aegyptiacus của Dal Sasso

IV. Nghiên cứu cổ-sinh thái học

Môi trường sống của Spinosaurus mới chỉ được hiểu một phần, đó là một vùng rộng lớn ngày nay là Bắc Phi. Những con Spinosaurus sống ở vùng hiện nay là Ai Cập, có lẽ đã đấu tranh sinh tồn trong điều kiện sống ở các dải đất ven bờ, các bãi đất lầy, lòng hồ cạncác eo biển, trong các khu rừng đước cùng với nhiều loài khủng long săn mồi to lớn khác như BahariasaurusCarcharodontosaurus, hay loài khủng long ăn cỏ khổng lồ Paralitian, một loài ăn cỏ bé hơn là Aegyptosaurus, loài cá sấu Stomatosuchus dài 10m,loài cá vây tay Mawsonia.
Người ta chưa rõ rằng Spinosaurus cơ bản là một kẻ săn mồi trên cạn hay một loài ăn cá, bởi bộ hàm thon dài, những cái răng hình nónlỗ mũi nhô cao. Giả thuyết về việc Spinosaurus là một loài ăn cá được đề xuất trước tiên bởi A. J. CharigA. C. Milner dựa theo loài Baryonyx. Họ dựa trên cơ sở có sự giống nhau về kết cấu cơ thể với các loài cá sấu. Có những loài cá lớn sống cùng với các loài họ Spinosaurid, như Mawsonia, ở giữa kỷ Phấn Trắng tại Bắc PhiBrazil. Dấu hiệu duy nhất về chế độ ăn của Spinosaurus là từ những họ hàng Châu ÂuNam Mỹ của nó. Loài Baryonyx được tìm thấy với cả những cái vảy cáxương của một con Iguanodon trưởng thành trong dạ dày của nó, trong khi một cái răng cắmo một khúc xương của một con thằn lằn bay Nam Mỹ đưa ra giả thuyết rằng các loài họ Spinosaurid đôi khi cũng săn bắt cả các loài bay được này. Spinosaurus có thể là một loài săn mồi cơ hội, giống như loài gấu xám Bắc Mỹ, vốn là loài có khuynh hướng bắt cá mặc dù chúng chắc chắn còn ăn xác thốisăn những con vật kích cỡ nhỏvừa khác.
V. Nghiên cứu cổ-sinh vật học
1. Kích cỡ
Kể từ khi được phát hiện, Spinosaurus luôn là loài dẫn đầu trong số các loài khủng long đứng bằng 2 chân (theropod) dài nhấtlớn nhất, mặc dù điều này không được nhiều người biết đến cho đến khi nó được thể hiện trong bộ phim Công viên kỷ Jura IIItrong bản mô tả một mẫu vật mớio năm 2005. Cả Friedrich von Huene (1875-1969)Donald F. Glut (sinh năm 1943), cách nhau hàng thập kỷ, đều liệt kê nó nằm trong số những loài theropod đồ sộ nhất trong những nghiên cứu của họ, nó nặng tới 6 tấndài 15m. Năm 1988, Gregory S. Paul cũng coi nó là loài theropod dài nhất, 15m, nhưng lại ước tính một khối lượng thấp hơn. Nhiều ước tính gần đây dựacác mẫu vật mới, đưa ra số liệu là Spinosaurus dài từ 16 đến 18mnặng 7 đến 9 tấn.
François TherrienDonald Henderson, trong một bài báo năm 2007 đã xác định tỷ lệ dựao chiều dài hộp sọ, đã không thừa nhận các đánh giá trước đó,cho rằng chiều dài quá lớnkhối lượng lại quá nhỏ. Họ ước tính nó dài từ 12,6 đến 14,3mcó khối lượng từ 12 đến 20,9 tấn. Những nghiên cứu này bị phê phán về sự lựa chọn các loài theropod lớn để so sánh (hầu hết các bộ xương được sử dụng để tính toán là của họ TyrannosauridCarnosauria, vốn có cấu trúc khác với họ Spinosaurid)vấn đề liên quan đến sự phục dựng hộp sọ Spinosaurus của họ. Để giải quyết việc này phải chờ đợi những bộ xương hoàn chỉnh hơn của nó.

So sánh kích cỡ các loài theropod khổng lồ

2. Cánh buồm
Cánh buồm của Spinosaurus rất khác thường, mặc dù các loài khủng long khác trong cùng thời giancùng khu vực, cụ thể là các loài khủng long chân chim Ouranosaurusloài khủng long chân thằn lằn Rebbachisaurus, có lẽ phát triển một cấu trúc tương tự ở các đốt sống lưng. Cánh buồm này có lẽ tương tự (chứ không phải tương đồng) với một loài bò sát giống thú ở kỷ Permi (299 đến 248 triệu năm trước) là Dimetrodon, loài này sống trước thời kỳ khủng long xuất hiện,sự tương tự này là do quá trình tiến hóa song song. Cánh buồm này có thể giống bướu hơn giống buồm, theo các ghi chép gần đây của Jack Bowman Bailey, xương sống của Spinosaurus không phải là những ống mỏng mà rộng từ trước ra sau, khá giống ở loài bò rừng bison,vì thế có lẽ đã chống đỡ một cấu trúc nhiều mỡdày chứ không phải là một cánh buồm da.

Minh họa các đốt sống Spinosaurus của Ernst Stromer

Chức năng của những cánh buồm này vẫn chưa được chắc chắn, các nhà khoa học đề xuấti giả thuyết bao gồm sự điều chỉnh nhiệtsự phô trương hình thức. Thêm nữa, một đặc điểm nổi bật như vậy trên lưng của nó cũng có thể khiến cho nó trông lớn hơn, gây kinh sợ cho các loài vật khác.
Nếu như cánh buồm mang nhiều mạch máu, loài vật này có thể sử dụng diện tích bề ngoài to lớn của cánh buồm để hấp thu nhiệt. Điều này dẫn đến rằng nó chỉ là một loài máu nóng không hoàn toàn,sống trong môi trường khí hậu, nơi mà nhiệt độ ban đêm hạ thấpbầu trời thường xuyên không có mây. Người ta nghĩ rằng cả 2 loài SpinosaurusOuranosaurus đều sống ở rìa vùng đất trước đây của sa mạc Sahara. Cũng có thể rằng cánh buồm được sử dụng để thoát nhiệt từ cơ thể hơn là thu nhiệt. Những loài động vật lớn, do tỷ lệ tương đối thấp giữa diện tích bề mặt phần thân mình so với toàn bộ khối lượng (theo lý thuyết của Haldane), gặp phải vấn đề lớn hơn trong việc tỏa nhiệt so với việc thu nhiệt. Những cánh buồm của các loài khủng long tăng thêm phần diện tích da đáng kể trên cơ thể, mà chỉ làm tăng một khối lượng nhỏ. Hơn nữa, nếu cánh buồm này quay khỏi hướng mặt trời hay ở vị trí vuông góc với một cơn gió mát, con vật sẽ tự làm mát hiệu quả hơn trong khí hậu Châu Phi ở kỷ Phấn Trắng.
Những cấu trúc cơ thể phức tạp của nhiều loài vật ngày nay thường nhằm mục đích hấp dẫn bạn tình. Rất có khả năng rằng những cánh buồm được sử dụng trong mục đích giới tính này, theo cách giống với đuôi của con công. Stromer suy xét rằng những con đựccon cái có lẽ khác nhau về kích cỡ của xương sống lưng. Nếu đúng là trường hợp này, những cánh buồm có lẽ có màu sắc rực rỡ, nhưng điều đó hoàn toàn chỉ là phỏng đoán.
Cuối cùng, cũng có khả năng là cánh buồm kết hợp các chức năng này, hoạt động thông thường như một bộ phận điều chỉnh nhiệt, trở thành công cụ ve vãn bạn tình trong mùa giao phối, sử dụng để tự làm mát,đôi khi, trở thành công cụ gây kinh hãi khi cảm thấy bị đe dọa.

Phục dựng một con Spinosaurus sống

3. Hình dáng
Mặc dù thường được mô tả như một loài đứng 2 chân, kể từ đầu những năm 1980, người ta đưa ra giả thuyết rằng Spinosaurus ít nhất thì cũng có lúc đứng trên 4 chân. Điều này được ủng hộ bằng việc khám phá ra loài Baryonyx, cân đối với những chân trước khỏe mạnh. Bailey (1997) đồng tình với quan điểm một tư thế 4 chân. Giả thuyết này không được ủng hộ, ít nhất là như một dáng đi điển hình, mặc dù các loài họ Spinosaurid có lẽ khi cúi mình xuống đã ở trong tư thế 4 chân.

VI. Trong văn hóa đại chúng
Spinosaurus đã xuất hiện từ lâu trong các cuốn sách phổ biến về khủng long, mặc dù chỉ mới gần đây người ta mới có đủ thông tin về các loài họ Spinosauridae để có được sự mô tả chính xác. Sau sự phục dựng xương rất có sức thuyết phục của LapparentLavocat năm 1955, nó được coi như một loài khủng long đứng thẳng bằng 2 chân, với cái đầu tương tự như các loài Theropod lớn kháccó một cánh buồm trên lưng, chân trước có 4 ngón.
Spinosaurus là con vật gây kinh hoàng nhất trong bộ phim Công viên kỷ Jura III (Jurassic Park III) năm 2001. Nó được thể hiện trên phim lớn hơnkhỏe hơn khủng long bạo chúa Tyrannosaurus: trong một cảnh mô tả trận chiến giữa 2 kẻ săn mồi này, Spinosaurus chiến thắng bằng cách cắno cổ của Tyrannosaurus. Trên thực tế, một trận đánh như vậy không bao giờ xảy ra khi 2 loài vật còn tồn tại, bởi vì SpinosaurusTyrannosaurus sống cách nhau hàng ngàn kilomethàng triệu năm. Sau khi xuất hiện trong Công viên kỷ Jura III, Spinosaurus trở nên nổi bật trong các sản phẩm liên quan đến bộ phim Công viên kỷ Jura, bao gồm một số trò chơi điện tử như Jurassic Park: Operation Genesis của Vivendi Universal.